Trang chủ Bản tin chuyên ngành Kiểm toán nội bộ tại các ngân hàng

Kiểm toán nội bộ tại các ngân hàng

John Webb - FCCA xem xét tầm quan trọng của việc cung cấp sự đảm bảo khách quan về rủi ro hiện tại và những rủi ro dự đoán trong tương lai liên quan đến hoạt động của kiểm toán nội bộ tại các Ngân hàng như sau:

“Tôi nhận thấy rằng vai trò của kiểm toán viên ngân hàng bao gồm tăng thêm giá trị thương mại thông qua trọng tâm về những yêu cầu kinh doanh, sự đảm bảo quản trị rủi ro và tư vấn chuyên nghiệp, tôi cũng thấy rõ ràng rằng việc cung cấp sự đảm bảo khách quan về những rủi ro hiện tại và rủi ro dự đoán trong tương lai thực sự là yếu tố quan trọng nhất.

Tôi đã làm việc 22 năm trong các dịch vụ tài chính kiểm toán nội bộ, chủ yếu là cương vị trưởng phòng kiểm toán nội bộ. Tôi đã tham gia kiểm toán các thị trường vốn, tài chính doanh nghiệp, ngân hàng đầu tư, quản lý tài sản (mảng mua và bán) và vốn cổ đông bằng tiền mặt, ngoài ra tôi còn làm kiểm toán bảo hiểm nhân thọ và phát hiện gian lận.

Những thiệt hại về giá trị cổ đông trong ngành ngân hàng, từ năm 2007, chủ yếu bắt nguồn từ các quyết định sớm hơn nhiều trong chu kỳ kinh tế (kể cả những quyết định của những người đảm bảo rủi ro), yêu cầu kiểm toán viên nội bộ phải chu đáo và chủ động suy nghĩ lại lần nữa về những gì thực sự quan trọng trong việc góp phần vào hiệu quả của quản trị doanh nghiệp.

Những điều kiện quan trọng đối với hiệu quả bao gồm:

  • Xây dựng và phát triển của đội ngũ kiểm toán nội bộ chất lượng cao (có thể bao gồm sự phục vụ lâu dài, được bổ sung với các kỹ năng chuyên môn)
  • Phát triển và xây dựng mối quan hệ tốt với khách hàng, kiểm toán nội bộ và các thành viên trong nhóm kiểm toán, thương lượng ngoại giao để đảm bảo rằng những đề xuất kiểm soát được công ty chấp nhận và thực hiện và bất kỳ bên thuê ngoài nào mà côn ty đó sử dụng, nhằm khắc phục những yếu kém về kiểm soát
  • Thiết kế các phương pháp và quy trình để cung cấp sự bảo đảm cho ban kiểm toán và nhà quản lý.

Một đội ngũ kiểm toán nội bộ mạnh và đáng tin cậy có thể tăng phạm vi, năng suất và chất lượng của công việc này một cách đáng kể, và báo cáo kiểm toán nội bộ được tích hợp với mô hình hóa rủi ro kinh doanh. Bằng cách dự đoán các nhu cầu khác nhau của Ủy ban kiểm toán và các nhà quản lý cấp cao và sự đạt được sự hợp tác hoạt động của cả hai đối tượng thì sẽ dễ dàng hơn để đảm bảo rằng những rủi ro cố hữu đáng kể và những đề xuất chưa được thực hiện sẽ được chú ý nhiều hơn nữa. Tất cả điều này phải đáp ứng được những nhà hoạch định đó là Cơ quan dịch vụ tài chính.

Tôi muốn nói thêm rằng bất kỳ sự điều tra gian lận nào phải được thực hiện một cách chuyên nghiệp, kỹ lưỡng và tự tin. Ngoài ra, một quy trình đảm bảo chất lượng có thể đảm bảo tính nhất quán trong kiểm toán và một chuẩn mực về sự thực hành tốt nhất sẽ nâng cao chất lượng theo thời gian. Đây là những vấn đề cần có những điều khoản riêng biệt vì nếu các kỹ năng cụ thể để thực hiện một cách đúng đắn mà không tồn tại trong bộ phận kiểm toán nội bộ, thì các kỹ năng như vậy phải được thu nhỏ lại.

PricewaterhouseCoopers - một công ty chuyên về dịch vụ kiểm toán nội bộ đã tiến hành một cuộc điều tra về những kỹ năng nào là “quan trọng hơn” trong năm 2012 so với hiện nay. Năm kỹ năng chính được đưa ra bởi người được hỏi là:

Khai thác và phân tích  dữ liệu 89.00%
Đánh giá rủi ro 76.00%
Công nghệ thông tin 72.00%
Quản trị rủi ro 70.00%
Phát hiện gian lận 69.00%

Trong đó, kỹ năng thức nhất cực kỳ hữu ích cho kỹ năng thứ năm - phát hiện gian lận.

Đội kiểm toán nội bộ của ngân hàng muốn làm điều gì? Có một hỗn hợp các hoạt động chung cho tất cả các ngành và những ngành khác mà cụ thể là đối với các dịch vụ tài chính.

Những hoạt động mà không phải của một lĩnh vực cụ thể bao gồm:

  1. Sự liên kết với sản phẩm, kinh doanh, hay hỗ trợ các đơn vị của công ty.
  2. Lập kế hoạch kiểm toán phải được ưu tiên hàng đầu và được lên lịch trình theo thời gian và lập kế hoạch hợp lý về kiểm toán cá nhân là điều quan trọng.
  3. Thực hiện thử nghiệm kiểm toán bằng cách sử dụng những mẫu thống kê, mẫu đánh giá hay những mẫu khác, tìm kiếm bằng chứng cho thấy những rủi ro đang được quản lý, hoạt động kiểm soát có hiệu quả và các quy trình đó nhằm hỗ trợ cho mô hình kinh doanh.
  4. Các kết quả thử nghiệm được phân tích để xác định những kết luận và quan điểm.
  5. Những kết quả này sau đó sẽ được phân tích để những đề xuất và kế hoạch hành động quản có thể được báo cáo và nhất trí.
  6. Những kết quả quan trọng và các mô hình cơ bản được phân tích để báo cáo cho ủy ban kiểm toán và quản trị rủi ro , cùng với báo cáo tình trạng về những đề xuất được thực hiện, những kế hoạch, vv
  7. Điều tra gian lận và thất bại kiểm soát sẽ được yêu cầu theo thời gian và mức độ kiểm toán nội bộ có liên quan sẽ phụ thuộc vào gian lận và chuyên môn khác trong bộ phận (cấp độ kỹ năng đó có thể tồn tại trong bộ phận hỗ trợ khác, như quản trị rủi ro, sự tuân thủ và sự đảm bảo). Đặc biệt, khả năng sử dụng công nghệ thẩm vấn dữ liệu rất quan trọng để điều tra gian lận hiệu quả.
  8. Kiểm toán dự án là quan trọng nhất khi những sáng kiến thay đổi theo hướng kinh doanh và công nghệ thông tin được yêu cầu; đây có thể phải có sự tuân thủ hoặc các yếu tố rủi ro. Tôi đã quan sát thấy rằng các kiểm toán viên cá nhân nên tham gia trên cơ sở có thể đóng góp vào các vấn đề rủi ro và kiểm soát một cách toàn diện, kể cả tại các ủy ban. Điều này giúp duy trì và nâng cao, chứ không phải hủy hoại danh tiếng của bộ phận kiểm toán nội bộ, mặc dù với khoản chi phí phân bổ công việc cho những kiểm toán viên khác nhau để quá trình kiểm toán vận hành sau khi thực hiện, để đảm bảo sự độc lập và tính khách quan.
  9. Tuân thủ kiểm toán là cần thiết để bao đáp ứng những yêu cầu đối với công ty theo các khu vực liên quan của Đạo luật công ty, Đạo luật Sarbanes Oxley, Đạo luật hối lộ (hệ thống của đạo luật và kỳ vọng kiểm soát), Đạo luật về Thuế và GAAP / IFRS của Anh.
  10. Kiểm toán công nghệ thông tin là cần thiết để đáp ứng cơ sở hạ tầng, hệ thống và sự phát triển ứng dụng, và kiểm toán viên công nghệ thông tin cũng cần phải làm việc như là một phần của nhóm kiểm toán viên kinh doanh, để nhận các phân tích dữ liệu và ứng dụng hỗ trợ và các yếu tố kiểm soát công nghệ thông tin.

Nếu bạn muốn chuyên sâu về kiểm toán nội bộ ngân hàng, có một số cân nhắc cụ thể về lĩnh vực này để thêm vào mục số10 trong danh sách, trong đó chắc chắn sẽ thay đổi tùy theo tính chất, bề rộng mỗi sản phẩm của ngân hàng. Một sự hiểu biết về thị trường, tính thanh khoản, tín dụng và rủi ro bên đối tác và chiến lược giảm nhẹ / bảo hiểm rủi ro của ngân hàng sẽ chỉ ra phương hướng tiếp cận và sự nhấn mạnh của kiểm toán viên cùng với sự quan tâm phổ biến về sự tuân thủ hoạt động và pháp lý cũng như sự đầy đủ và hiệu quả của kiểm soát.

Đây là một trong những khía cạnh mà kiểm toán viên ngân hàng cần phải có kinh nghiệm.

Ngân hàng bán buôn: Thị trường tài chính doanh nghiệp, tư vấn, môi giới, vốn cổ động và vốn nợ tất cả đều có liên quan đến việc huy động tài chính và xem xét cách nào là tốt nhất để sử dụng. Có những rủi ro trực tiếp đến ngân hàng, ví dụ, bảo lãnh phát hành cổ phiếu mới hoặc giấy nợ và/hoặc các rủi ro gián tiếp đến ngân hàng khi đưa ra sự tư vấn kém hoặc không bảo đảm sự tuân thủ những quy định của Cơ quan dịch vụ tài chính hay Sàn giao dịch Chứng khoán hay những quy tắc mua bán doanh nghiệp.

Ngân hàng bán lẻ: Doanh nghiệp hoặc tư nhân cho vay và nhận tiền gửi, cùng với các tài khoản ngân hàng hoạt động, và thẻ tín dụng. Basel 2 quy định về sự đánh giá vốn và các tiêu chuẩn về vốn, theo Chỉ thị yêu cầu vốn (CRD), bao gồm khung giám sát EU nhằm đảm bảo tổ chức tín dụng tài chính như ngân hàng, các công ty đầu tư và các tổ chức xây dựng. Sự tuân thủ các đạo luật của Anh như Đạo luật Dịch vụ Tài chính và Thị trường 2000 (FSMA) cũng được yêu cầu. Các rủi ro cố hữu trong thanh khoản, một chế độ tỷ lệ lãi suất thấp, những yêu cầu đầy đủ hơn về vốn, nhằm hỗ trợ các tài sản rủi ro hơn và sự cần thiết phải đối xử với khách hàng một cách công bằng là những mối quan tâm của kiểm toán viên nội bộ cùng với các rủi ro lâu năm như cho vay dài hạn, vay nợ ngắn hạn, gian lận và chống rửa tiền. Sự giao dịch về vốn cổ đông, trái phiếu và những công cụ phái sinh chắc chắn mang lại những rủi ro cho thị trường và mức độ khác nhau về sự tương quan giữa rủi ro và giá trị rủi ro (VAR). Các vùng đặc biệt khó khăn đối với kiểm toán nội bộ phát sinh có liên quan đến tổng hợp rủi ro và tác động của sự đa dạng hóa. Hiện tượng “đường phân bố chuẩn” là tần số các sự kiện thực tế lớn hơn lớn hơn so với dự đoán theo các kỹ thuật mô hình hóa lịch sử; sự tác động lẫn nhau giữa các sự kiện khiến cho kiểm toán viên cảm thấy thử thách (cũng như bất cứ đối tượng nào khác).

Kiểm toán tuân thủ: Ngoài những điều nêu trên, kiểm toán viên cần phải giám sát về sự tuan thủ của các bộ phận, sự tuân thủ Đạo luật về ngân hàng, tuần thủ những quy định của Cơ quan Dịch vụ Tài chính về các vấn đề như tội phạm tài chính, xung đột lợi ích, hệ thống và kiểm soát, tiền khách hàng, giám sát bảo đảm an toàn. Quy trình đánh giá Mức độ đầy đủ vốn nội bộ (ICAAP) kết nối Basel 2 những yêu cầu về vốn đầy đủ với quy trình lấy mẫu rủi ro của công ty. Đây là lĩnh vực chuyên môn và độc lập của kiểm toán viên nội bộ, cũng như chuyên môn về bảo đảm rủi ro.

Đánh giá rủi ro: Ngoài thị trường, tín dụng, khả năng thanh toán, sự tuân thủ, pháp lý, thanh khoản, rủi ro uy tín và rủi ro hoạt động, cách tiếp cận của kiểm toán viên phải bao gồm việc lồng ghép các hoạt động quản trrủi ro của công ty với báo cáo cho ban kiểm toán. Chúng ta phải tăng cường tham gia vào việc đánh giá căng thẳng và thử nghiệm căng thẳng ngược (không chỉ trong lập kế hoạch kinh doanh liên tục) và những tác động rủi ro hệ thống cũng như những rủi ro cụ thể của công ty / nhóm.

Tôi tin rằng các thuộc tính sau đây là những kỹ năng quan trọng của kiểm toán viên nội bộ:

  1. Phát triển mối quan hệ tốt với mọi người, kể cả thông qua sự đồng cảm
  2. Cập nhật những thay đổi và suy nghĩ về phát triển các rủi ro và những tác động của chúng đến hiện tại và tương lai của công ty
  3. Khả năng phân tích cả về phương diện tài chính và về rủi ro/quy định
  4. Kỹ năng giao tiếp, nói và viết. Giao tiếp cần phải rõ ràng và súc tích và giải thích xem mối quan tâm lớn nhất là gì (rất nhiều người có khoảng thời gian có thể tập trung nghe người khác nói rất ngắn)
  5. Nghe và chọn lọc một cách cẩn thận. Đây chính là điểm xuất phát của chức danh công việc mà chúng tôi thực hiện.
  6. Thời hạn và những ưu tiên. Liên tục quan tâm đến những vấn đề này cho phép chúng ta hoạt động hiệu quả và thích hợp theo thời gian
  7. Hiểu biết về những kết nối và liên kết. Phạm vi ảnh hưởng của chúng tôi là rất rộng, nhưng với mức độ sâu sắc khác nhau về lợi ích kiểm toán nội bộ. Khả năng kết nối những phát hiện với quan sát có thể cho chúng ta những hiểu biết mà các chuyên gia không có
  8. Trung thực, liên quan đến cả tính chất cá nhân và tính chuyên nghiệp, là điều cần thiết phải đạt được. Điều này hiển nhiên là quan trọng trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ của kiểm toán nội bộ.

John Webb - FCCA

Download tài liệu TẠI ĐÂY.

Xem thông tin khóa học TẠI ĐÂY.

CHIA SẺ BÀI VIẾT

Cơ hội nghề nghiệp